bài 8 nhật bản
. vùng biển quanh Nhật Bản, có dòng biển nóng (Cưrôsivô) và dòng biển lạnh (Ôiasivô) gặp nhau, tạo nên ngư trường lớn. GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NHẬT BẢN VỊ TRÍ NHẬT BẢN TRÊN BẢN ĐỒ THẾ GIỚI-KHU VỰC Vay Tiền Online Tima. I. Nhật Bản từ 1945- 1952- Sự thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai để lại cho Nhật Bản những hậu quả nặng nề gần 3 triệu người chết và mất tích, kinh tế bị tàn phá, 13 triệu người thất nghiệp, đói rét…- Sau chiến tranh, bị Mĩ chiếm đóng dưới danh nghĩa Đồng minh 1945 - 1952.1. Chính trịBộ Chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh SCAP thi hành các biện pháp- Loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt và bộ máy chiến tranh của Nhật, xét xử tội phạm chiến Giải tán các đảng phái quân 3/5/1947, ban hành Hiến pháp mới quy định Nhật là nước quân chủ lập hiến nhưng thực tế làchế độ dân chủ đại nghị tư Nhật cam kết từ bỏ việc tiến hành chiến tranh, không dùng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc Không duy trì quân đội thường trực, chỉ có lực lượng Phòng vệ dân sự bảo đảm an ninh, trật tự trong mang quân đội ra nước Kinh tếSCAP tiến hành 3 cải cách lớn- Thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, giải tán các tập đoàn lũng đoạn “Dai-bát-xư”.- Cải cách ruộng đất, hạn chế ruộng địa chủ, đem bán cho nông Dân chủ hóa lao động. => Từ năm 1950 – 1951 Nhật khôi phục kinh tế. Kinh tế đạt mức trước chiến Đối ngoại- Liên minh chặt chẽ với Mĩ, ký Hiệp ước hòa bình Xan Pharan-xi cô 9-1951, chấm dứt việc chiếm đóng của đồng minh Mĩ- 8/9/1951 ký Hiệp Ước An ninh Mĩ- Nhật chấp nhận Mĩ bảo hộ, cho Mĩ đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự trên đất Nhật Bản từ 1952- 19731. Kinh tế- 1952 - 1960 phát triển 1960 - 1973 phát triển thần kỳ tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,8%/ năm. Năm 1968, vươn lên hàng thứ hai thế giới tư bản sau Mĩ tổng sản phẩm quôc dân là 183 tỷ USD..- Đầu những năm 70, Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế- tài chính thế giới cùng với Mĩ và Tây Khoa học- kĩ thuật- Rất coi trọng giáo dục và khoa học - kĩ thuật, mua bằng phát minh sáng chế- Phát triển khoa học - công nghệ chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất ứng dụng dân dụng đóng tàu chở dầu 1 triệu tấn, xây đường hầm dưới biển dài 53,8 km nối Honsu và Hokaido, cầu đường bộ dài 9,4 km…Hình 1 Cầu Seto Ohashi nối hai đảo Hôn-xiu và Xi-cô-cư- Nguyên nhân phát triểnCon người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định hàng trò lãnh đạo, quản lý của nhà nước độ làm việc suốt đời, chế độ lương theo thâm niên và chủ nghĩa nghiệp đoàn xí nghiệp là “ba kho báu thiêng liêng” làm cho các công ty Nhật có sức mạnh và tính cạnh tranh công ty Nhật năng động, có tầm nhìn xa, quản lý tốt và cạnh tranh dụng thành công những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phí quốc phòng thấp nên có điều kiện tập trung đầu tư vốn cho kinh dụng tốt yếu tố bên ngoài để phát triển viện trợ Mỹ, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam…- Hạn chếLãnh thổ hẹp, dân đông, nghèo tài nguyên, thường xảy ra thiên tai, phải phụ thuộc vào nguồn nguyên nhiên liệu nhập từ bên cấu giữa các vùng kinh tế, giữa công – nông nghiệp mất cân sự cạnh tranh gay gắt của Mỹ, Tây Âu, NICs, Trung Quốc…Chưa giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản nằm trong bản thân nền kinh tế Chính trị- Từ 1955, Đảng Dân chủ tự do LDP liên tục cầm quyền, duy trì và bảo vệ chế độ tư Từ 1960- 1964, chủ trương xây dựng “Nhà nước phúc lợi chung”, tăng thu nhập quốc dân lên gấp đôi trong 10 năm 1960 - 1970. I-kê-đa - Ha-ya-to- 1956 bình thường hóa với Liên xô, tham gia Liên Hiệp Nhật Bản từ 1973- 19911. Kinh tế- Từ 1973, do tác động khủng hoảng năng lượng, kinh tế Nhật thường khủng hoảng và suy thoái Từ nửa sau 1980, Nhật vươn lên trở thành siêu cường tài chính số một thế giới với dự trữ vàng và ngoại tệ gấp 3 lần Mỹ, gấp 1,5 lần CHLB Đức, trở thành chủ nợ lớn nhất thế 2 Tàu cao tốc ở Nhật Bản2. Đối ngoại- “Học thuyết Phu-cư-đa” 1977 và “Học thuyết Kai-phu” 1991 chủ trương tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với các nước Đông Nam Á và tổ chức Thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam 21/9/ Nhật Bản từ 1991- 20001. Kinh tếVẫn là một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn của thế giới năm 2000, GNP là 4746 tỷ USD, GDP bình quân là 37408 USD.2. Khoa học- kĩ thuậtPhát triển ở trình độ cao. Năm 1992, phóng 49 vệ tinh nhân tạo, hợp tác với Mỹ, Nga trong các chương trình vũ trụ quốc Văn hóaLà nước phát triển cao nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện Chính trị- Từ 1993- 2000, tình hình chính trị - xã hội Nhật không ổn định động đất, khủng bố, nạn thất nghiệp…- 1955- 1993 Đảng Dân chủ tự do LDP cầm 1993- 2000 đảng đối lập cầm quyền5. Đối ngoại- Tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mĩ. 4-1996 Mĩ-Nhật, kéo dài vĩnh viễn Hiệp Ước An ninh Mĩ- Học thuyết “Mi-y-da-oa” và “Ha-si-mô-tô” coi trọng quan hệ với Tây Âu, mở rộng đối ngoại trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt với Đông Nam Á và tổ chức Từ đầu những năm 90, Nhật nỗ lực vươn lên thành một cường quốc chính trị để tương xứng với vị thế siêu cường kinh Ngày 8/9/1951, Nhật kí với Mĩ “Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật”, chấp nhận đặt Nhật Bản dưới “Ô bảo vệ hạt nhân” của Mĩ và để quân đội Mĩ xây dựng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ hạn hai lần vào năm 1960 và năm 1970, sau đó kéo dài vô thời thành một “liên minh Mĩ - Nhật” nhằm chống lại các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ở vùng Viễn Bản đã trở thành một “Căn cứ chiến lược” của Mĩ trong âm mưu thực hiện “Chiến lược toàn cầu” chống cách mạng vào những năm 70 và nửa đầu những năm 80, Mĩ còn trên đất Nhật 179 căn cứ quân sự với quân, riêng ở đảo Ôkinaoa có 88 căn cứ quân sự và lĩnh Mĩ.
1. Kinh tế* Giai đoạn 1945 – 1952– Sự thất bại của Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai để lại cho Nhật Bản hậu quả hết sức nặng nề 3 triệu người chết và mất tích; cơ sở vật chất bị phá huỷ nặng nề; 13 triệu người thất nghiệp; thảm hoạ đói rét đe doạ cả nước; là nơi Mĩ đóng quân từ năm 1945 đến năm 1952.– Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh SCAP thực hiện ba cuộc cải cách lớn 1- Thủ tiêu chế độ kinh tế tập trung, 2- Cải cách ruộng đất, 3- Dân chủ hoá lao động.– Dựa vào viện trợ Mĩ, Nhật bản nỗ lực khôi phục kinh tế, đạt mức trước chiến tranh.* Giai đoạn 1952 – 1973– Từ năm 1953 đến năm 1960 có bước phát triển nhanh, từ năm 1960 đến năm 1973, kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển “thần kì”, tốc độ tăng trưởng cao liên tục, nhiều năm đạt tới hai con số 1960 – 1969 là 10,8%. Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế sau Mĩ.– Tới năm 1968, vươn lên là vương quốc kinh tế tư bản thứ hai sau Mĩ. Từ đầu những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế – tài chính lớn nhất thế giới cùng Mĩ và Liên minh châu Âu.– Nguyên nhân của sự phát triển kinh tếCoi trọng yếu tố con người được đào tạo chu đáo, có ý thức tổ chức kỉ luật, được trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù và tiết kiệm, ý thức cộng đồng…; được xem là vốn quí nhất, là “công nghệ cao nhất”, là nhân tố quyết định hàng trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước và các công ty Nhật Bản như thông tin và dự báo về tình hình kinh tế thế giới; áp dụng các tiến bộ khoa học, kĩ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh hàng hóa, tín dụng….Các công ty của Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lý tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh áp dụng các thành tựu khoa học – kĩ thuật hiện đại, không ngừng nâng cao năng suất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phí cho quốc phòng ít nên có điều kiện tập trung cho phát triển kinh dụng tốt các điều kiện bên ngoài như nguồn viện trợ Mĩ, các cuộc Chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953 và Việt Nam 1954 – 1975 để làm Khoa học – kĩ thuật– Nhật Bản rất coi trọng giáo dục và khoa học – kĩ thuật, tập trung chủ yếu là nghiên cứu về lĩnh vực sản xuất dân dụng.– Sản xuất nhiều mặt hàng dân dụng nổi tiếng thế giới tivi, tủ lạnh, ô tô…, các tàu chở dầu có tải trọng lớn 1 triệu tấn, xây dựng đường ngầm dưới biển dài 53,8 km nối liền hai đảo Hôn-su và Hốc-cai-đô, xây dựng cầu đường bộ đô dài 9,7 km nối hai đảo Hônsu và Sicôcư…3. Chính sách đối ngoại* Trong thời kì “Chiến tranh lạnh”– Nền tảng chính sách đối ngoại của Nhật Bản là liên minh chặt chẽ với Mĩ, thể hiện ở việc ký Hiệp ước hòa bình Xan Phranxixcô và Hiệp ước An ninh Mĩ – Nhật tháng 9/1951, về sau được gia hạn nhiều lần. Theo đó, Nhật Bản chấp nhận đứng dưới “chiếc ô” bảo hộ hạt nhân của Mĩ, cho Mĩ đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản.– Năm 1956, Nhật Bản bình thường hoá quan hệ với Liên Xô và tham gia Liên hợp quốc.– Năm 1973, Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Năm 1978, Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Nhật – Trung được kí kết.– Tháng 8/1977, với học thuyết Phucưđa, đánh dấu sự “trở về” châu Á của Nhật Bản.– Năm 1991, Nhật Bản đưa ra “Học thuyết Kaiphu” là tiếp tục phát triển “Học thuyết Phucưđa” trong hoàn cảnh lịch sử mới nhằm củng cố mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với các nước Đông Nam Á.* Sau thời kì “Chiến tranh lạnh”– Tiếp tục liên minh chặt chẽ với Mĩ, tháng 4/1996, Hiệp ước An ninh Nhật – Mĩ được tái khẳng định kéo dài vĩnh viễn. Mặt khác, Nhật vẫn coi trọng quan hệ với Tây Âu và mở rộng đối ngoại với các nước trên phạm vi toàn cầu.– Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản với các nước NICs và ASEAN phát triển với tốc độ mạnh hỏi ôn tậpCâu 1. Nêu sự phát triển kinh tế và khoa học – kĩ thuật của Mĩ trong thời gian 1945 – 1973 và những nhân tố thúc đẩy sự phát triển 2. Trình bày và nhận xét chính sách đối ngoại của Mĩ trong và sau thời kì Chiến tranh lạnh? Nêu những thất bại và thành công của Mĩ trong chính sách đối ngoại từ năm 1945 đến năm 3. Từ năm 1945 đến năm 2000, nước Mĩ đã trải qua những giai đoạn phát triển kinh tế như thế nào? Trình bày tóm tắt sự phát triển 4. Tóm tắt sự phát kinh tế, khoa học – kĩ thuật của Tây Âu từ năm 1945 đến năm 2000. Những nhân tố nào đã dẫn đến kết quả đó?Câu 5. Kể tên các tổ chức liên minh quân sự và liên kết chính trị – kinh tế được học trong chương trình Trung học phổ thông. Trình bày quá trình hình thành và phát triển của tổ chức liên kết chính trị – kinh tế lớn nhất hành tinh. Nhận xét vai trò của tổ chức đó trong nền kinh tế thế 6. Trình bày những thành tựu chủ yếu về kinh tế và khoa học – kĩ thuật của Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kì. Những nhân tố nào đã tạo nên những thành tựu đó? Việt Nam có thể học tập những gì từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản?Câu 7. Tóm tắt chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm tậpBài 1. Lập các bảng tóm tắt sự phát triển về kinh tế và chính sách đối ngoại của Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000Giai đoạnKinh tếChính sách đối ngoại1945-1973 1973-1991 1991-2000 Bài 2. Tìm hiểu chính sách của Mĩ đối với Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX.
Bài 8 nhật; bản Là nước bại trận trong Chiến trạnh thế giới thứ hai, nhưng từ sau năm 1945, Nhật Bản bước vào một thời kì phát triển mới với những đổi thay căn bản về chính trị - xã hội cùng những thành tựu như một sự “thần kì” về kinh tế, khoa học - công nghệ. Nhật Bản đã vươn lên, trở thành một siêu cường kinh tế, một trung tâm kinh tế - tài chính thế giới. - NHẬT BẦN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1952 Sự thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại cho Nhật Bản những hậu quả hết sức nặng nề. Khoảng 3 triệu người chết và mất tích ; 40% đô thị, 80% tàu bè, 34% máy móc công nghiệp bị phá huỷ ; 13 triệu người thất nghiệp ; thảm hoạ đói, rét đe doạ toàn nước Nhật. Sau chiến tranh, Nhật Bản đã bị quân đội Mĩ, với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, chiếm đóng từ năm 1945 đến năm 1952, nhưng Chính phủ Nhật Bản vẫn được phép tồn tại và hoạt động. Về chính trị, Bộ Chí huy tối cao lực lượng Đồng minh viết tắt theo tiếng Anh là SCAP đã loại bỏ chủ nghĩa quân phiệt và bộ máy chiến tranh của Nhật Bản. Toà án Quân sự Viễn Đông đã xét xử tội phạm chiến tranh Nhật Bản kết án tử hình 7 tên, tù chung thân 16 tên. Hiến pháp mới do SCAP tổ chức soạn thảo có hiệu lực từ ngày 3 - 5 - 1947, quy định Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, nhưng thực chất là theo chế độ dân chủ đại nghị tư sản. Hiến pháp mới vẫn duy trì ngôi vị Thiên hoàng song chỉ mang tính tượng trưng, không còn quyền lực đối với Nhà nựớc ; xác định Nghị viện gồm hai viện, do nhân dân bầu ra, là cơ quan quyền lực tối cao giữ quyền lập phííp ; Chính phủ nắm quyền hành pháp, do Thú tướng đứng đầu. Nhật Bản cam kết tù' bỏ việc tiến hành chiến tranh, không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; không duy trì quân đội thường trực, chì có lực lượng phòng vệ dân sự bảo đảm an ninh, trật tự trong nước. Về kinh tế, SCAP đã thực hiện ba cuộc cải cách lớn một là, thu tiêu chế độ tập trung kinh tế, trước hết là giải tán các “Daibátxư” tức là các tập đoàn, công ti tư bản lũng đoạn còn mang nhiều tính chất dòng tộc ; hai là, cải cách ruộng đất, quy định địa chú chi được sở hữu không quá 3 hécta ruộng, số còn lại Chính phủ đem bán cho nông dân ; ba là, dân chủ hoá lao động thông qua việc thực hiện các đạo luật về lao động. Dựa vào sự nỗ lực của bản thấn và viện trợ của Mĩ, đến khoảng năm 1950 - 1951, Nhật Bản đã khôi phục kinh tế, đạt mức trước chiến tranh. Trong chính sách đối ngoại, Nhật Bản chủ trương liên minh chặt chẽ với Mĩ. Nhờ đó, nước Nhật sớm kí kết được Hiệp ước hoà bình Xan Phranxixcô 8-9-1951, chấm dứt chế độ chiếm đóng của Đồng minh 1952. Cùng ngày, Hiệp ước an ninh Mĩ -Nhật được kí kết, đặt nền tảng mới cho quan hệ giữa hai nước. Theo đó, Nhật Bản chấp nhận đứng dưới “chiếc ô” bảo hộ hạt nhân của Mĩ, để cho Mĩ đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản. r> -Js - Nêu nội dung cơ bản của những cải cách dân chủ ở Nhật Bản trong thời kì bi chiếm đóng. - Liên minh Nhật - Mĩ được biểu hiện như thế nào ? II -NHẬT BẢN TỪ NĂM 1952 ĐẾN NĂM 1973 Sau khi được phục hồi, từ năm 1952 đến năm 1960, kinh tế Nhật Bản có bước phát triển nhanh, nhất là từ năm 1960 đến năm 1973, thường được gọi là giai đoạn phát triển “thần kì”. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của Nhật Bản từ năm 1960 đến năm 1969 là 10,8% ; từ năm 1970 đến năm 1973, tuy có giảm đi nhưng vẫn đạt bình quân 7,8%, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác. Năm 1968, kinh tế Nhật Bản đã vượt Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia và Canada, vươn lên đứng thứ hai trong thế giới tư bản sau Mĩ. Từ đầu những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tê' - tài chính lớn của thê' giới cùng với Mĩ và Tây Âu. Nhật Bản rất coi trọng giáo dục và khoa học - kĩ thuật, luôn tìm cách đẩy nhanh sự phát triển bằng cách mua bằng phát minh sáng chế. Tính đến năm 1968, Nhật Bản đã mua bằng phát minh của nước ngoài trị giá tới 6 tỉ USD. Khoa học - kĩ thuật và công nghệ Nhật Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất ứng dụng dân dụng, đạt được nhiều thành tựu lớn. Ngoài các sản phẩm dân dụng nổi tiếng thế giới như tivi, tủ lạnh, ôtô Nhật Bản còn đóng tàu chở dầu có trọng tải 1 triệu tấn ; xây dựng các công trình thế kỉ như đường ngầm dưới biển dài 53,8 km nối hai đảo Hônsu và Hốccaiđô, cầu đường bộ dài 9,4 km nối hai đảo Hônsu và Sicôcư. Hình 21. Cầu Sêtô ôhasi nối hai đảo Hônsu và Sicôcư Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một siêu cường kinh tế sau Mĩ là do một số yếu tố sau 1. Ở Nhật Bản, con người được coi là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu ; 2. Vai trò lãnh đạo, quản lí có hiệu quả của Nhà nước ; 3. Các công ti Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh cao ; 4. Nhật Bản biết áp dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm ; 5. Chi phí cho quốc phòng của Nhật Bản thấp không vượt quá 1% GDP, nên có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho kinh tế; 6. Nhật Bản đã tận dụng, tốt các yếu tố bên ngoài để phát triển, như nguồn viện trợ của Mĩ, các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên 1950 - 1953 và Việt Nam 1954 - 1975 để làm giàu Tuy nhiên, nền kinh tế Nhật Bản vẫn có những hạn chể và gặp phải nhiều khó khăn 1. Lãnh thổ Nhật Bản không rộng, tài nguyên khoáng sản rất nghèo nàn, nền công nghiệp của Nhật Bản hầu như phụ thuộc vào các nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ; 2. Cơ cấu vụng kinh tế của Nhật Bản thiếu cân đối, tập trung chủ yếu vào ba trung tâm là Tôkiô, Ôxaca và Nagôia, giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng có sự mất cân đối; 3. Nhật Bản luôn gặp sự cạnh tranh quyết liệt của Mĩ, Tây Âu, các nước công nghiệp mới, Trung Quốc về chính trị, từ năm 1955 đến năm 1993, Đảng Dân chủ Tự do LDP liên tục cầm quyền ở Nhật Bản. Dưới thời Thủ tướng Ikêđa Hayato 1960 - 1964, Nhật Bản chủ trương xây dựng “Nhà nước phúc lợi chung”, tăng thu nhập quốc dân lên gấp đôi trong vòng 10 năm 1960 - 1970. Nền tảng căn bản trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản vẫn là liên minh chặt chẽ với Mĩ. Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật kí năm 1951 có giá trị trong 10 năm, sau đó được kéo dài vĩnh viễn. Tuy vậy, phong trào đấu tranh của nhân dân Nhật Bản chống Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật, chống chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam, cũng như các cuộc đấu tranh theo mùa mùa xuân và mùa thu kể từ năm 1954 trở đi đòi tăng lương, cải thiện đời sống luôn diễn ra mạnh mẽ. Năm 1956, Nhật Bản bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Liên Xô. Cùng nãm đó, Nhật Bản là thành viên của Liên hợp quốc. - - • - Những nhân tô nào thúc đây sự phát triển “thẩn kì” của kinh tê Nhật Bản ? -Hãy nêu những khó khăn đối với sự phát triển kinh tế ở Nhật Bản. Ill - NHẬT BẢN TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1991 Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, từ năm 1973 trở đi, sự phát triển kinh tế của Nhật Bán thường xen kẽ với những giai đoạn suy thoái ngắn. Tuy nhiên, tù' nửa sau nhũng năm 80, Nhật Bản đã vươn lên thành siêu cường tài chính số một thế giới với lượng dự trữ vàng và ngoại tệ gấp 3 lần của Mĩ, gấp 1,5 lần của Cộng hoà Liên bang Đức. Nhật Bán cũng là chủ nợ lớn nhất thế giới. Hình 22. Tàu cao tốc ở Nhật Bản Với tiềm lực kinh tế - tài chính ngày càng lớn mạnh, từ nửa sau những năm 70, Nhật Bản bắt đầu đưa ra chính sách đối ngoại mới, thể hiện trong học thuyết Phucưđa 1977 và học thuyết Kaiphu 1991. Nội dung chủ yếu của các học thuyết trên là tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội với các nước Đông Nam Á và tổ chức ASEAN. s. 1991 Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 21 - 9 - 1973. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong những năm 1973 như thế nào ? - NHẬT BẢN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 Tù' đầu thập kỉ 90, kinh ré'Nhật Bản lâm vào tình trạng suy thoái, nhưng Nhật Bản vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới. Tỉ trọng của Nhật Bẳn trong nền sản xuất của thế giới là 1/10. GDP của Nhật Bản năm 2000 là 4 746 tỉ USD và bình quân GDP trên đầu người là 37 408 USD. Kỉĩoa học - kĩ thuật của Nhật Bản vẫn tiếp tục phát triển ở trình độ cao. Tính đến năm 1992, Nhật Bản đã phóng 49 vệ tinh khác nhau và họp tác có hiệu quả với Mĩ, Liên Xô sau là Liên bang Nga, trong các chương trình vũ trụ quốc tế. Vê' văn hoá, tuy là một nước tư bản phát triển cao, nhưng Nhật Bản vẫn giữ được những giá trị truyền thống và bản sắc văn hoá của mình. Sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại là nét đáng chú ý trong đời sống văn hoá Nhật Bản. Về chính trị, sau 38 năm Đảng Dân chủ Tự do liên tục cầm quyền 1955 - 1993, từ năm 1993 đến năm 2000, chính quyền ở Nhật Bản thuộc về các đảng đối lập hoặc liên minh các đảng phái khác nhau, tình hình xã hội Nhật Bản có phần không'ổn định. Trận động đất ở Côbê 1 - 1995 đã gây thiệt hại lớn về người và của ; vụ khủng bố bằng hơi độc trong đường tàu điện ngầm của giáo phái Aum 3 - 1995 và nạn thất nghiệp tăng cao đã làm cho nhiều người dân Nhật Bản hết sức lo lắng. Về đối ngoại, Nhặt Bản tiếp tục duy trì sự liên minh chặt chẽ với Mĩ. Tháng 4 - 1996, hai nước ra tuyên bố khẳng định lại việc kéo dài vĩnh viễn Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật. Mặt khác, với học thuyết Miyadaoa 1 - 1993, và học thuyết Hasimôtô 1 - 1997, Nhật Bản vẫn coi trọng quan hệ với Tây Âu, mở rộng hoạt động đối ngoại với các đối tác khác đến phạm vi toàn cầu và chú trọng phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á. Từ đầu những năm 90, Nhật Bản nỗ lực vươn lên thành một cường quốc chính trị để tương xứng với vị thế siêu cường kinh tế. Nêu những nét cơ bản về tình hình kinh tế và chính trị của Nhật Bản trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX. CÂU HỞI VÀ BÀI TẬP Những yếu tố nào khiến Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới vào nửa cuối thế kỉ XX ? Khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000.
bài 8 nhật bản