bệnh viêm đa cơ
Nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm đường tiết niệu đó là do vi khuẩn. Vi khuẩn này xâm nhập từ phân đi vào các cơ quan khác bên trong cơ thể gây ra tình trạng viêm nhiễm niệu đạo, bàng quang và thận. Ngoài vi khuẩn E.Coli, nguyên nhân khiến bạn mắc bệnh viêm đường tiết
Bệnh viêm đa cơ có thể khiến viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Trong một số ít trường hợp, suy tim sung huyết và rối loạn nhịp tim có thể tiến triển. Ung thư: Ung thư phổi , vú, bàng quang và bệnh lymphoma không Hodgkin có thể tăng lên ở những bệnh nhân viêm đa cơ, đặc biệt là trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán.
Các triệu chứng Viêm da cơ hay Viêm đa cơ có thể dần dần hoặc nhanh chóng khởi phát, và có thể tăng giảm theo thời gian . Chẩn đoán. Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Xét nghiệm nồng độ creatine kinase (CK) trong máu, chụp cộng hưởng từ (MRI). Điều trị
Vay Tiền Online Tima. Nguồn chủ đề Viêm đa vi mạch là bệnh tổn thương viêm mạch hoại tử hệ thống không do lắng đọng globulin miễn dịch và chủ yếu tổn thương ở các mạch máu nhỏ. Trước kia được gọi là hội chứng thận phổi với viêm cầu thận tiến triển nhanh và xuất huyết phế nang, nhưng đặc điểm của bệnh phụ thuộc vào cơ quan bị tổn thương. Chẩn đoán dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và đôi khi cần sinh thiết để khẳng định chẩn đoán. Điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh, bao gồm corticosteroid và thuốc ức chế miễn dịch. Viêm đa vi mạch MPA microscopic polyangiitis rất hiếm gặp khoảng 13 đến 19 trường hợp/triệu người. Sinh bệnh học không rõ. MPA gây tổn thương các mạch máu nhỏ và không có lắng đọng miễn dịch ví dụ, các lắng đọng globulin miễn dịch không thấy trên mẫu bệnh phẩm sinh thiết, tương tự trong u hạt bạch cầu ái toan kèm theo viêm đa mạch U hạt với viêm đa mạch GPA U hạt và viêm đa mạch được đặc trưng bởi viêm u hạt hoại tử, viêm mạch vừa và nhỏ, viêm cầu thận hoại tử, thường tạo thành hình liềm. Thường ảnh hưởng tới đường hô hấp trên, đường hô hấp dưới... đọc thêm GPA và u hạt bạch cầu ưa axit và viêm đa mạch U hạt bạch cầu ái toan kèm theo viêm đa mạch EGPA U hạt bạch cầu ái toan kèm theo viêm đa mạch là một bệnh viêm mạch hoại tử hệ thống của các mạch máu nhỏ và trung bình, đặc trưng bởi các u hạt ngoài mạch, tăng bạch cầu ái toan và sự xâm nhập... đọc thêm EGPA, khác với các bệnh lý viêm các mạch máu nhỏ do phức hợp miễn dịch như viêm mạch do IgA Viêm mạch do Immunoglobulin A IgAV Viêm mạch do IgA trước đây gọi là xuất huyết Schonlein Henoch thường ảnh hưởng tới các mạch máu nhỏ. Bệnh thường gặp ở trẻ em. Các biểu hiện thường gặp bao gồm sẩn xuất huyết, đau khớp, các... đọc thêm - thường được gọi là xuất huyết Henoch-Schönlein và viêm mạch ngoài da Viêm mạch ngoài da Viêm mạch ngoài da liên quan tới tình trạng viêm các mạch nhỏ hoặc trung bình ở trong da và mô dưới da nhưng không phải ở các cơ quan nội tạng. Viêm mạch ngoài da có thể chỉ giới hạn tổn thương... đọc thêm các mạch máu nhỏ. MPA tổn thương chủ yếu ở các mạch máu nhỏ bao gồm mao mạch và các tiểu tĩnh mạch sau mao mạch, không giống như viêm nút quanh động mạch Viêm nút quanh động mạch PAN Viêm nút quanh động mạch là bệnh viêm mạch hoại tử hệ thống với tổn thương điển hình ở các động mạch vừa và đôi khi tổn thương cả các động mạch nhỏ, dẫn tới thiếu máu các cơ quan mà nó chi phối... đọc thêm , ảnh hưởng tới các động mạch kích thước trung bình. Các tài liệu cũ hơn trước năm 1994 không phân biệt rõ ràng giữa bệnh viêm nút quanh động mạch và MPA - xuất huyết phế nang và viêm cầu thận có thể xảy ra ở MPA nhưng không gặp trong viêm nút quanh động mạch. Ít trường hợp, MPA có thể xuất hiện do viêm gan hiện lâm sàng giống với u hạt với viêm đa mạch ngoại trừ những tổn thương phá hủy dạng hạt thường không có ví dụ các tổn thương dạng hốc ở phổi và các triệu chứng đường hô hấp trên thường nhẹ hoặc không có triệu chứng. Trong cả hai bệnh, kháng thể kháng bào tương của bạch cầu trung tính ANCA đều có thể dương tính. Triệu chứng và Dấu hiệu của MPA Các triệu chứng tiền triệu thường gặp như sốt, sút cân, đau cơ và đau khớp. Các triệu chứng khác phụ thuộc vào cơ quan và hệ thống bị ảnh hưởng Bệnh thận Tổn thương thận có thể gặp lên tới 90% số bệnh nhân. Xuất hiện hồng cầu niệu, protein niệu có khi > 3 g/24 giờ và trụ hồng cầu. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, suy thận xuất hiện nhanh sau Khoảng 1/3 bệnh nhân có ban xuất huyết ngoài da tại thời điểm chẩn đoán. Có thể gặp tắc mạch và xuất huyết nhỏ giường móng, hiếm khi gây thiếu máu đầu chi. Hô hấp Nếu phổi bị tổn thương, có thể gây xuất huyết phế nang Xuất huyết phế nang lan tỏa Sự xuất huyết phế nang lan tỏa là xuất huyết phổi dai dẳng hoặc tái phát. Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng rối loạn tự miễn là phổ biến nhất. Hầu hết các bệnh nhân có khó thở, ho, ho ra máu,... đọc thêm và sau đó là xơ phổi. Khó thở tiến triển nhanh, thiếu máu, có thể có hoặc không có ho máu, tổn thương thâm nhiễm thành đám cả hai trường phổi quan sát được trên phim X-quang có thể là do xuất huyết phế nang, cần được xử trí cấp cứu và điều trị ngay lập tức. Một số bệnh nhân mắc MPA ban đầu có thể biểu hiện bệnh phổi kẽ. Các triệu chứng nhẹ như viêm mũi, chảy máu cam, viêm xoang có thể gặp; tuy nhiên, nếu có các triệu chứng nghiêm trọng của đường ho hấp trên, nguyên nhân có thể là do bệnh u hạt có viêm đa tiêu hóa GI Các triệu chứng đường tiêu hóa như đau bụng, buồn nôn, nôn ói, tiêu chảy, đại tiện phân có Tim ít khi bị tổn thương. Các dấu hiệu lâm sàngXét nghiệm ANCA và các xét nghiệm thường thiếtCần nghĩ tới viêm đa vi mạch ở những bệnh nhân có các triệu chứng sốt, sút cân, đau khớp, đau bụng, xuất huyết phế nang, hội chứng viêm cầu thận mới xuất hiện, bệnh lý đơn dây thần kinh đa ổ mới xuất hiện hoặc bệnh lý đa dây thần kinh mà không giải thích được. Làm các xét nghiệm và có thể chụp X-quang, nhưng chẩn đoán xác định dựa vào sinh xét nghiệm bao gồm công thức máu, tốc độ máu lắng ESR, protein phản ứng C, xét nghiệm nước tiểu, creatinine huyết thanh và xét nghiệm kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính ANCA. ESR, mức protein phản ứng C, số lượng bạch cầu và tiểu cầu tăng phản ánh tình trạng viêm hệ thống. Thường có thiếu máu do bệnh lý mạn tính. Hematocrit giảm nhanh gợi ý xuất huyết phế nang hoặc xuất huyết đường tiêu hóa. Xét nghiệm nước tiểu tìm hồng cầu, protein niệu, các trụ tế bào và xét nghiệm creatinin huyết thanh nên được kiểm tra định kỳ để kiểm tra tổn thương miễn dịch huỳnh quang có thể phát hiện ANCA; sau đó làm xét nghiệm ELISA để tìm các kháng thể đặc hiệu. Ít nhất 60% bệnh nhân có ANCA dương tính, thường là ANCA cạnh nhân p-ANCA với các kháng thể kháng sinh thiết mô tổn thương dễ tiếp cận nhất để xác định chẩn đoán. Sinh thiết thận có thể phát hiện tổn thương viêm cầu thận hoại tử ổ cục bộ không có lắng đọng miễn dịch với hoại tử xơ hóa thành mao mạch cầu thận, dẫn tới sự hình thành các liềm tế bệnh nhân có triệu chứng về hô hấp, cần chụp ngực để phát hiện các tổn thương thâm nhiễm. Tổn thương thâm nhiễm từng đám cả hai trường phổi gợi ý xuất huyết phế nang ở những bệnh nhân không có ho ra máu. CT nhạy hơn nhiều so với X-quang. Nếu bệnh nhân khó thở và có tổn thương thâm nhiễm cả hai phế trường, cần nội soi phế quản ngay lập tức để kiểm tra tình trạng xuất huyết phế nang và loại trừ nhiễm khuẩn. Máu xuất hiện ở cả hai trường phổi và tất cả các phế quản, càng vào sâu, máu chảy càng nhiều cho thấy tổn thương xuất huyết phế nang đang hoạt động. Các đại thực bào chứa Hemosiderin xuất hiện trong vòng 24 đến 72 giờ sau khi khởi phát triệu chứng xuất huyết và có thể tồn tại kéo dài đến 2 tháng. Khi các cơ quan quan trọng bị tổn thương, sử dụng corticosteroid liều cao cộng với cyclophosphamide hoặc rituximabĐối với những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, sử dụng corticosteroid kết hợp với methotrexateCác trường hợp ít nặng hơn có thể được điều trị bằng corticosteroid kết hợp với methotrexate. Viêm đa vi động mạch là bệnh viêm mạch nhỏ hiếm chứng rất đa dạng và có thể có xuất huyết phế nang, bệnh lý đơn dây thần kinh đa ổ và viêm cầu đoán xác định dựa vào xét nghiệm ANCA và sinh trị với corticosteroid kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch ví dụ, cyclophosphamide hoặc rituximab trong trường hợp bệnh nặng. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Bệnh viêm đa cơ Dermatomyositis là bệnh có viêm cơ kèm theo tổn thương da hoặc không. Viêm đa cơ là bệnh tự miễn và đáp ứng với thuốc ức chế miễn dịch. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở lứa tuổi thiếu niên 10-15 tuổi và tuổi trung niên 45-60 tuổi, nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ mắc bệnh viêm đa cơ trong cộng đồng ước tính 5-10 trường hợp/1 triệu dân. Chẩn đoán xác địnhTiêu chuẩn chẩn đoán của Tanimoto và cộng sự năm 1995. Tiêu chuẩn này có độ nhạy 98,9% và độ đặc hiệu 95,2%Chẩn đoán xác định bệnh viêm đa cơ khi có ít nhất 4 trong 8 triệu chứng sauĐau cơ do viêm gây nên hoặc đau có tính chất tự phát;Yếu cơ vùng gốc chi;Tăng nồng độ CK creatinine kinase trong huyết thanh hoặc aldolase;Điện cơ có các hiện tượng biến đổi nguồn gốc cơ thời gian ngắn, đơn vị vận động nhiều pha với các rung giật tự phát;Khi sinh thiết cơ xuất hiện hình ảnh thâm nhiễm cơ vân kèm theo dấu hiệu thoái hóa và hoại tử sợi cơ thực bào hoạt động, nhân trung tâm hoặc có các bằng chứng hoạt động;Viêm khớp không có hình ảnh bị bào mòn trên X quang, không có hủy khớp hoặc đau khớp;Các triệu chứng toàn thân sốt nhẹ trên 370 C, CRP tăng hoặc tốc độ máu lắng tăng > 20 mm/h bằng phương pháp Westergren;Kháng thể kháng Jo-1 dương tính; Người bệnh xuất hiện đau cơ Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm đa cơ của Bohan và Peter năm 1975, gồm 5 yếu tốYếu cơ vùng gốc chi hai bên đối xứng;Sinh thiết cơ thấy xuất hiện triệu chứng của bệnh viêm cơ;Men cơ trong huyết thanh tăng;Điện cơ có dấu hiệu của viêm cơTổn thương ở da điển hình của bệnh cơ do viêm ban Gottron, ban màu đỏ hoặc tím ở vùng mi mắt, ban đỏ hình chữ V ở cổ và ngực, bàn tay thợ cơ đoán xác định viêm đa cơChẩn đoán chắc chắn viêm đa cơ khi có tất cả 4 yếu tố đầu đoán gần như chắc chắn viêm đa cơ khi có 3/4 yếu tố đầu tiênChẩn đoán nghi ngờ viêm đa cơ khi có 2/4 yếu tố đầu tiên Sinh thiết cơ trên người bệnh viêm cơ Chẩn đoán phân biệtBệnh viêm đa cơ đôi khi phải chẩn đoán phân biệt với các tình trạng bệnh lý có gây biểu hiện yếu cơYếu cơ mạn tính hoặc bán cấp nguyên nhân do các bệnh lý thần kinh tổn thương tủy, xơ hóa cột bên, loạn dưỡng cơ, nhược cơ... Các dấu hiệu thần kinh vận động, điện cơ và sinh thiết cơ có thể giúp chẩn đoán phân biệt bệnh viêm đa cơ với các tình trạng bệnh lý cơ cấp tính trong các bệnh viêm đa cơ hội chứng Guillain-Barré, viêm tủy cắt ngang, nhiễm độc thần kinh, viêm cơ do virus. Ở các bệnh lý này thường có dấu hiệu co rút cơ, khai thác tiền sử, khám cảm giác, các xét nghiệm độc tố và vi sinh có thể giúp chẩn đoán phân cơ do thuốc Khai thác kỹ biểu hiện lâm sàng bệnh viêm đa cơ đặc biệt tiền sử dùng thuốc có thể giúp chẩn đoán phân cơ do nguyên nhân đau cơ, đau khớp trong một số bệnh lý đau cơ do thấp, viêm khớp có thể gây yếu khám lâm sàng, các xét nghiệm về viêm, miễn dịch đặc biệt kết quả sinh thiết cơ bình thường giúp chẩn đoán phân biệt cơ trong các bệnh lý nội tiết và chuyển hóa như cường hoặc suy tuyến giáp, cường vỏ thượng thận. Chẩn đoán phân biệt viêm đa cơ dựa vào các kết quả xét nghiệm học môn nội tiết. Cần chẩn đoán phân biệt với suy tuyến giáp 2. Điều trị bệnh viêm đa cơ Nguyên tắc điều trị bệnh viêm đa cơĐiều trị thuốc kết hợp với phục hồi chức năng hợp corticoid và các thuốc điều trị cơ bản methotrexat hoặc azathioprin trong các thể thông thường hoặc cyclophosphamid trong các thể kháng điều trị hoặc có tổn thương phổi kẽ. Kết hợp truyền tĩnh mạch immunoglobulin có hiệu quả tuy giá thành tránh các biến chứng do sát các bệnh ung thư kết hợp, đặc biệt ung thư cơ quan sinh dục ở Điều trị bằng thuốcCorticoid là thuốc điều trị chính trong bệnh viêm đa cơ, thường kết hợp với những thuốc điều trị cơ bản DMARD.Corticoid đường uống, với liều khởi đầu 1-2 mg/kg/ngày, dùng 1 lần/ngày hoặc chia 3- 4 lần/ngày nếu dùng 1 lần/ngày không kiểm soát được bệnh. Duy trì liều cao đến khi các triệu chứng lâm sàng của bệnh thuyên giảm và nồng độ enzym CK trong huyết thanh giảm trở về mức bình thường, trung bình khoảng 6- 8 tuần. Sau đó giảm liều dần, điều trị liều duy trì trung bình 5- 10mg/ truyền tĩnh mạch liều cao truyền tĩnh mạch mỗi ngày mg x 3 ngày. Chỉ định khi viêm đa cơ nặng, tiến triển cấp tính, có tổn thương tim mạch hoặc viêm phổi kẽ nặng. Corticoid đường uống được sử dụng điều trị bệnh Các thuốc điều trị cơ bản DMARD thường kết hợp với corticoid trong điều trị bệnh viêm đa cơ. Nhóm này bao gồm methotrexate, azathioprine, định các thể viêm đa cơ thông dùng Dùng đường uống, liều 7,5- 15mg mỗi tuần tuần, có thể tăng liều lên đến 20mg mỗi tuần tùy theo đáp ứng của bệnh tác dụng không mong muốn suy tế bào gan, suy tủy xương, viêm phổi. Hàng tháng cần theo dõi tế bào máu ngoại vi và enzym gan khi dùng thuốc kéo định khi không đáp ứng với điều trị với dùng Dùng đường uống với liều khởi đầu 1,5- 2mg/kg/ngày, liều trung bình 150- 200mg/ngày. Giảm liều khi các triệu chứng lâm sàng thuyên định trong các thể kháng điều trị với methotrexat hoặc azathioprin hoặc trong trường hợp có tổn thương phổi dùng mỗi tháng một lần truyền tĩnh mạch liều 500mg- 1000 mg; trong 6 tháng liên tục; tiếp theo, có thể duy trì 03 tháng một liều như trên. Có thể dùng thuốc theo đường uống với liều dùng 1- 2 mg/kg/ngày, liều tối đa 150 mg/ngày song nguy cơ ung thư bàng quang dụng không mong muốn viêm bàng quang chảy máu, suy tế bào gan, suy tủy xương, rụng tóc, cảm giác nóng bừng ở đầu trong thời gian truyền. Thuốc tiêm Cyclophosphamide Các biện pháp khácTruyền tĩnh mạch immunoglobulin IVIGChỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng, không đáp ứng với các phác đồ thông thường. Kết hợp với phương pháp điều trị nêu dùng 1-2 g/kg/ngày, chia truyền từ 2-5 ngày mỗi 04 tuần. Ngừng truyền khi các triệu chứng của bệnh được cải huyết tương PlasmapheresisChỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng. Kết hợp với các biện pháp điều trị nêu đa cơ gây ra những thương tổn ở da và cơ cho người bệnh đồng thời gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Để quá trình điều trị đạt được hiệu quả cao, bạn nên thăm khám và phát hiện bệnh THÊMViêm cơ nhiễm khuẩn Những điều cần biếtTìm hiểu thông tin về viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơNhiễm trùng nào dẫn đến viêm cơ? XEM THÊM Thuốc HCQ trong điều trị da liễu Kỹ thuật thay huyết tương trong điều trị bệnh nhược cơ Chẩn đoán và điều trị nhược cơ
Viêm đa cơ polymyositis là một bệnh tự miễn tương đối hiếm gặp. Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ dao động từ – trường hợp trên 1 triệu dân. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn da trắng và phụ nữ gấp đôi nam giới. Nó thường xảy ra ở những người trên 20 tuổi, đặc biệt là từ 45 – 60 tuổi. Tuy hiếm gặp nhưng hậu quả mà bệnh mang lại tương đối nặng nề. Bạn cần nhận biết sớm những triệu chứng nhằm ngăn ngừa biến chứng và làm chậm tiến triển của bệnh. Hãy cùng theo chân Youmed tìm hiểu về bệnh lý này nhé. Nội dung bài viết 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ5. Cách chẩn đoán bệnh6. Biến chứng của viêm đa cơ7. Cách điều trị viêm đa cơ8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ 1. Tổng quan về bệnh viêm đa cơ Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn gây yếu cơ đối xứng hai bên cơ thể. Nó có thể gây khó khăn khi leo cầu thang, ngồi dậy, nâng đồ vật hoặc đưa tay qua đầu. Các triệu chứng thường tiến triển từ từ, trong vài tháng. Bệnh có thể kèm theo các tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. 2. Triệu chứng của bệnh viêm đa cơ Các triệu chứng viêm đa cơ tiến triển từ từ trong khoảng thời gian 3-6 tháng, bao gồm Cơ bắp Tình trạng suy yếu các nhóm cơ gần với trục cơ thể như ở hông, đùi, vai, cánh tay và cổ. Các cơ bị ảnh hưởng đối xứng 2 bên cơ thể và có xu hướng nặng lên từ từ khiến bạn khó quỳ, leo trèo, giơ tay, nâng đồ vật, chải tóc hay ngồi bật dậy. Yếu cơ vùng cổ nên khó giữ tư thế đầu thẳng. Đau cơ cũng có thể xảy ra, nhưng tỉ lệ dưới 30%. Toàn thân Viêm đa cơ là một bệnh toàn thân. Các triệu chứng có thể bao gồm Giảm cân; Viêm khớp; Mệt mỏi; Chán ăn; Sốt liên quan đến kháng thể kháng Jo-1; Cứng khớp buổi sáng. Phổi Tình trạng suy yếu các cơ vùng hầu họng có thể dẫn đến các triệu chứng của viêm phổi hít, bao gồm thở khò khè, ho sặc, tím tái, tụt huyết áp… Khó thở khi gắng sức cũng xảy ra do yếu các cơ thành ngực và cơ hoành. Hệ tiêu hóa Táo bón. Bụng đầy hơi. Chứng khó nuốt. Trào ngược thức ăn lên mũi. Viêm thực quản do trào ngược. Tim Các triệu chứng gồm hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở, đau thắt ngực… Là những biểu hiện của rối loạn nhịp tim, suy tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim… Một khi đã xuất hiện các triệu chứng tại tim thì tiên lượng bệnh trở nên xấu đi. Tiết niệu Sự tiêu cơ vân nặng có thể gây tiểu myoglobin, có thể dẫn đến hoại tử ống thận cấp. Biểu hiện nước tiểu có màu nâu đỏ, tiểu ít. Da Hội chứng Raynaud Không giống như viêm da cơ địa, phát ban thì không xuất hiện ở bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, các dày sừng ở mặt lòng và cạnh ngoài ngón tay đã được báo cáo. Hội chứng Raynaud xảy ra khi ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai tiếp xúc với lạnh. Da các vùng này sẽ thay đổi màu sắc từ hồng sang trắng hoặc xanh tím, tê, dị cảm. 3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được biết một cách rõ ràng. Tuy nhiên, bệnh có liên quan tới các rối loạn tự miễn. Trong đó, hệ thống miễn dịch đã tấn công nhầm vào chính các mô bình thường của cơ thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào lympho T gây độc tấn công vào các kháng nguyên trên cơ. Do đó, các sợi cơ sẽ bị tổn thương, viêm và suy yếu. Bệnh có thể xảy ra tự phát hoặc liên quan đến nhiễm virus, ung thư, rối loạn mô liên kết. Các virus có liên quan đến căn nguyên của bệnh gồm HIV, coxsakievirus B, retrovirus… 4. Yếu tố nguy cơ bệnh viêm đa cơ Nguy cơ cao hơn nếu bị lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì hoặc hội chứng Sjogren. Bên cạnh đó còn có các yếu tố môi trường, đặc biệt là các tác nhân truyền nhiễm làm tăng nguy cơ gây bệnh, bao gồm Coxsackievirus B1; HIV; Virus lymphotrophic tế bào T gây bệnh ở người type 1 HTLV-1; Virus viêm gan B; Cúm; Echovirus; Adenovirus. Các loại thuốc như D-penicillamine, hydralazine, Procainamide, phenytoin và thuốc ức chế men chuyển angiotensin có liên quan đến bệnh viêm đa cơ. Statin đôi khi cũng gây viêm cơ nghiêm trọng và ly giải cơ vân. 5. Cách chẩn đoán bệnh Sau khi hỏi bệnh và khám phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ viêm đa cơ. Bác sĩ sẽ đề nghị một số xét nghiệm để loại trừ hay xác định chẩn đoán, bao gồm Xét nghiệm máu Nồng độ enzyme của cơ tăng cao như CK, GOT, GPT là dấu hiệu của tổn thương cơ. Các tự kháng thể chuyên biệt liên quan đến viêm đa cơ giúp lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất. Điện cơ Bác sĩ sẽ đặt một điện cực kim mỏng qua da vào trong cơ. Hoạt động điện được đo lúc nghỉ và vận động cơ bắp. Sự thay đổi trong mô hình hoạt động điện có thể xác định được bệnh lý ở cơ. Sinh thiết cơ Một mảnh mô cơ nhỏ sẽ được lấy ra để phân tích trong phòng thí nghiệm. Sinh thiết có thể thấy được những bất thường như viêm, tổn thương, khiếm khuyết protein hay enzyme nhất định. Chụp cộng hưởng từ MRI Khác với sinh thiết cơ, MRI có thể đánh giá tình trạng viêm trên một vùng cơ lớn. Bên cạnh đó, bạn cần biết cách chẩn đoán phân biệt. Các triệu chứng của viêm đa cơ dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác như Hạ kali máu, hạ phosphat máu, suy giáp. Bệnh nhược cơ, Loạn dưỡng cơ, bệnh cơ chuyển hóa. Viêm cơ bạch cầu ái toan, viêm cơ khu trú, viêm cơ tế bào khổng lồ. Bệnh đa rễ thần kinh trên bệnh nhân đái tháo đường. Các bệnh mô liên kết lupus, viêm đa khớp dạng thấp, xơ cứng bì, hội chứng Sjogren. Bệnh cơ do thuốc Zidovudine, D-penicillamine, Statins, Ketoconazole… 6. Biến chứng của viêm đa cơ Suy dinh dưỡng Nếu các cơ trong thực quản bị ảnh hưởng, có thể gặp vấn đề về nuốt. Do đó có thể gây giảm cân và suy dinh dưỡng. Viêm phổi hít Khó nuốt có thể khiến hít phải thức ăn, chất lỏng, nước bọt vào phổi có thể gây viêm phổi. Bệnh phổi kẽ Bệnh phổi kẽ có thể xảy ra với những người bị viêm đa cơ. Tình trạng này gây ra xơ hóa mô phổi, làm cho phổi cứng và không co giãn. Các triệu chứng bao gồm ho khan và khó thở. Hội chứng Raynaud Là tình trạng ngón tay, ngón chân, má, mũi và tai trở nên nhợt nhạt khi tiếp xúc với lạnh. Bệnh tim mạch. Bệnh viêm đa cơ có thể khiến viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Trong một số ít trường hợp, suy tim sung huyết và rối loạn nhịp tim có thể tiến triển. Ung thư Ung thư phổi, vú, bàng quang và bệnh lymphoma không Hodgkin có thể tăng lên ở những bệnh nhân viêm đa cơ, đặc biệt là trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán. Biến chứng của điều trị corticoid kéo dài Chân tay teo lại, da mỏng; tăng huyết áp, đái tháo đường, hạ kali trong máu, loét dạ dày tá tràng; loãng xương… 7. Cách điều trị viêm đa cơ Hiện không có cách nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm đa cơ. Tuy nhiên, thuốc và vật lý trị liệu có thể cải thiện sức mạnh và chức năng của cơ bắp. Việc điều trị sớm sẽ có hiệu quả và ít dẫn đến biến chứng hơn. Không có phương pháp điều trị cố định nào cho bệnh viêm đa cơ. Chiến lược điều trị sẽ được điều chỉnh dựa trên triệu chứng và mức độ đáp ứng với trị liệu. Thuốc Các loại thuốc thường được sử dụng nhất để điều trị viêm đa cơ bao gồm Corticosteroid Các loại thuốc như prednison rất hiệu quả trong việc kiểm soát các triệu chứng viêm đa cơ. Nhưng việc sử dụng kéo dài các loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng. Do đó bác sĩ thường giảm dần liều thuốc xuống mức thấp hơn trong quá trình điều trị. Thuốc hỗ trợ cho corticosteroid Khi kết hợp với corticosteroid, những thuốc này có thể làm giảm liều và tác dụng phụ của corticosteroid. Hai loại thuốc phổ biến nhất được sử dụng cho bệnh viêm đa cơ là azathioprine và methotrexate. Các loại thuốc khác cũng được kê toa bao gồm mycophenolate mofetil, cyclosporine và tacrolimus. Rituximab Được sử dụng phổ biến hơn để điều trị viêm khớp dạng thấp. Rituximab sẽ được chọn nếu liệu pháp ban đầu không kiểm soát được các triệu chứng của viêm đa cơ. Các liệu pháp Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, bác sĩ có thể đề nghị Vật lý trị liệu Các bài tập giúp cải thiện, duy trì sức mạnh và sự linh hoạt của cơ bắp. Bác sĩ sẽ hướng dẫn mức độ luyện tập thích hợp tùy theo tình trạng bệnh. Ngôn ngữ trị liệu Nhóm cơ hầu họng suy yếu, liệu pháp này giúp bù lại cho những khiếm khuyết trong lời nói. Đánh giá chế độ ăn uống Khi bị viêm đa cơ, việc nhai và nuốt có thể trở nên khó khăn hơn. Một chuyên gia dinh dưỡng sẽ hướng dẫn cách chế biến các món ăn dễ ăn và bổ dưỡng. Tiêm IVIG Tiêm IVIG Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch IVIG là sản phẩm máu tinh khiết có chứa các kháng thể lành mạnh. Những kháng thể này sẽ ngăn chặn các kháng thể gây hại tấn công cơ bắp trong viêm đa cơ. 8. Tiên lượng bệnh viêm đa cơ Hầu hết các trường hợp, viêm đa cơ đáp ứng tốt với điều trị. Mặc dù, tình trạng yếu cơ vẫn còn xảy ra ở khoảng 30% bệnh nhân. Loãng xương, một biến chứng phổ biến của liệu pháp corticosteroid dài hạn. Các yếu tố tiên lượng kém bao gồm Tuổi cao; Giới tính nữ; Chủng tộc người Mỹ gốc Phi; Bệnh phổi kẽ; Sự hiện diện của kháng thể kháng Jo-1 và kháng thể kháng SRP; Mắc các bệnh lý ác tính; Điều trị chậm trễ hoặc không đầy đủ; Chứng khó đọc, khó nuốt; Mắc các bệnh tim và phổi kèm theo. Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ. Người bệnh khi có biểu hiện cần đi khám bệnh sớm để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Tỷ lệ sống còn sau 5 năm trong bệnh viêm đa cơ ước tính là hơn 80%. Tử vong thường liên quan nhiều nhất đến bệnh lý ác tính hoặc biến chứng tại phổi. Tuy nhiên, bệnh nhân cao tuổi có bệnh tim hoặc khó nuốt cũng có tỷ lệ tử vong cao. Viêm đa cơ là một bệnh tự miễn hiếm gặp. Tuy nhiên, hậu quả mà chúng gây ra là rất nhiều có thể dẫn đến từ vong. Nếu có các dấu hiệu nghi ngờ của viêm đa cơ nên đến khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Tuy chưa có cách điều trị khỏi bệnh này nhưng điều trị kịp thời sẽ mang lại những tín hiệu tích cực. Bài viết hy vọng đem đến cho người đọc những kiến thức hữu ích về bệnh lý này.
bệnh viêm đa cơ